Hà Nội kiểm soát việc khai thác dữ liệu công khi hợp tác với doanh nghiệp
(Chinhphu.vn) - Từ dữ liệu giao thông, quy hoạch đến các nền tảng phục vụ quản lý đô thị, Hà Nội đang có thêm nguồn thông tin để phát triển dịch vụ số. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế hợp tác khai thác dữ liệu công với doanh nghiệp, nhưng đặt ra yêu cầu kiểm soát quyền truy cập, bảo vệ thông tin và phân chia lợi ích, tránh thất thoát tài sản công.

Infographic: Chinhphu.vn
Dữ liệu đô thị và nhu cầu khai thác
Với mạng lưới giao thông công cộng rộng khắp, Hà Nội đang quản lý khối lượng lớn thông tin về tuyến vận tải, phương tiện, điểm dừng và hoạt động phục vụ hành khách. Đây là một trong những lĩnh vực cho thấy rõ nhu cầu tổ chức, kết nối và khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng quản lý đô thị.
Theo Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông thành phố Hà Nội, tính đến tháng 3/2026, mạng lưới xe buýt trên địa bàn có 155 tuyến, 2.239 xe và 5.024 điểm dừng. Mạng lưới đã tiếp cận 126/126 xã, phường, kết nối với các địa phương lân cận.
Những thông tin về tuyến, điểm dừng, lộ trình và phương tiện có ý nghĩa đối với công tác điều hành vận tải, cung cấp thông tin cho hành khách và nghiên cứu tổ chức giao thông. Khi được chuẩn hóa, kết nối và khai thác phù hợp, dữ liệu còn có thể hỗ trợ phát triển các công cụ phân tích nhu cầu đi lại, dự báo lưu lượng hoặc đề xuất điều chỉnh mạng lưới vận tải.
Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu trong nội bộ cơ quan quản lý và việc cho phép doanh nghiệp tham gia khai thác dữ liệu công là hai hoạt động khác nhau. Nếu dữ liệu được đưa vào hợp tác để phát triển sản phẩm, dịch vụ, cần xác định rõ chủ thể được tiếp cận, phạm vi sử dụng, trách nhiệm bảo vệ thông tin và quyền đối với kết quả tạo ra.
Đây là một trong những vấn đề được UBND thành phố Hà Nội cụ thể hóa tại Quyết định số 103/2026/QĐ-UBND ngày 23/7/2026, quy định phương thức quản trị dựa trên dữ liệu số, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng khai thác dữ liệu. Quyết định có hiệu lực từ ngày 3/8/2026.
Quy định được ban hành trên cơ sở điểm c khoản 3 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026, trao UBND thành phố thẩm quyền quy định cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng khai thác dữ liệu.
Doanh nghiệp không đương nhiên được tiếp cận dữ liệu công
Theo Quyết định số 103/2026/QĐ-UBND, thành phố quy định cơ chế thí điểm hợp tác khai thác dữ liệu và phát triển sản phẩm dữ liệu công - tư giữa cơ quan nhà nước được giao quản lý dữ liệu với tổ chức, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ đáp ứng điều kiện theo quy định.
Các hình thức hợp tác có thể bao gồm khai thác dữ liệu mở đã được công bố; cung cấp quyền truy cập có kiểm soát đối với dữ liệu được phép khai thác; phối hợp nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển sản phẩm dữ liệu, công cụ phân tích, bản đồ số, mô hình dự báo và giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Lấy lĩnh vực giao thông công cộng làm ví dụ, thông tin về tuyến xe buýt, vị trí điểm dừng và lộ trình có thể được sử dụng để nghiên cứu các công cụ hỗ trợ hành khách lựa chọn hành trình. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn tiếp cận những dữ liệu thuộc diện phải được cơ quan quản lý cấp quyền khai thác, việc sử dụng phải tuân thủ phạm vi và điều kiện được cho phép.
Đối với dữ liệu mở đã công bố, tổ chức, cá nhân khai thác theo điều kiện áp dụng đối với dữ liệu đó. Còn hoạt động hợp tác khai thác dữ liệu công theo hợp đồng phải thực hiện đúng quy định riêng về thẩm quyền, mục đích và trách nhiệm của các bên.
Quyết định số 103 cũng xác định rõ giới hạn đối với dữ liệu được đưa vào thí điểm. Theo đó, chỉ những dữ liệu hợp pháp, được phép khai thác, dữ liệu mở, dữ liệu công khai, dữ liệu tổng hợp hoặc đã được ẩn danh hóa mới được xem xét sử dụng theo cơ chế này.
Dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân chưa đáp ứng điều kiện xử lý theo pháp luật, bí mật kinh doanh, dữ liệu hạn chế tiếp cận hoặc dữ liệu có nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội không được đưa vào khai thác trái quy định.
Đáng chú ý, Điều 21 quy định không được sử dụng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư để chuyển giao quyền quản lý dữ liệu gốc, hợp thức hóa việc cung cấp dữ liệu trái phép, độc quyền hóa nguồn dữ liệu công hoặc tạo lợi thế cạnh tranh không công bằng cho một tổ chức, doanh nghiệp.
Quy định này đặt ra ranh giới giữa việc doanh nghiệp được tham gia tạo ra sản phẩm, dịch vụ từ dữ liệu với quyền quản lý nguồn dữ liệu thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước.
Một doanh nghiệp cung cấp phần mềm, nền tảng số hoặc giải pháp kỹ thuật cho cơ quan nhà nước cũng không vì thế mà đương nhiên có quyền khai thác dữ liệu phát sinh từ hệ thống. Nếu có hoạt động khai thác, quyền và điều kiện sử dụng phải được xác định theo hợp đồng và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định.
Chia sẻ lợi ích phải gắn với trách nhiệm bảo vệ tài sản công
Bên cạnh điều kiện tiếp cận, Quyết định số 103/2026/QĐ-UBND quy định cơ chế chia sẻ lợi ích khi dữ liệu của thành phố được sử dụng để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc giá trị kinh tế.
Theo Điều 23, các bên tham gia được thỏa thuận cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp với quy định pháp luật. Hình thức chia sẻ có thể là doanh thu, sản phẩm, quyền sử dụng công nghệ, kết quả nghiên cứu hoặc hình thức khác theo hợp đồng.
Chẳng hạn, trong một hoạt động hợp tác nghiên cứu và phát triển công cụ phân tích dữ liệu đô thị, kết quả hợp tác có thể là sản phẩm phần mềm, mô hình phân tích hoặc quyền sử dụng công nghệ. Việc xác định quyền của từng bên đối với những kết quả này phải được làm rõ trong hợp đồng, thay vì mặc nhiên thuộc về đơn vị cung cấp giải pháp kỹ thuật.
Đây là tình huống minh họa cho cơ chế được phép áp dụng, không phải một hợp đồng cụ thể đã được thành phố triển khai.
Quyết định yêu cầu việc xác định giá trị dữ liệu, giá trị khai thác và tỷ lệ phân chia lợi ích phải bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, không làm thất thoát tài sản công.
Nguồn thu từ khai thác dữ liệu, nếu phát sinh, được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định liên quan. Thành phố ưu tiên bố trí nguồn lực để tái đầu tư phát triển hạ tầng dữ liệu, nền tảng số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Để thực hiện hợp tác, hợp đồng phải xác định rõ chủ thể tham gia, loại dữ liệu, mục đích, phạm vi, phương thức, thời hạn và điều kiện khai thác. Quyền, nghĩa vụ của các bên, quyền đối với sản phẩm hình thành từ dữ liệu, cơ chế phân chia lợi ích nếu có, trách nhiệm bảo mật và xử lý vi phạm cũng phải được quy định cụ thể.
Hoạt động thí điểm phải có hồ sơ, đề án hoặc phương án được cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong đó cần làm rõ mục tiêu, nội dung hợp tác, tiêu chí đánh giá kết quả, cơ chế giám sát và phương án xử lý rủi ro.
Phải dừng khai thác khi phát hiện vi phạm
Cùng với việc tạo cơ sở cho hợp tác khai thác dữ liệu, Hà Nội đặt ra yêu cầu kiểm soát hoạt động truy cập, xử lý và sử dụng dữ liệu trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.
Điều 28 Quyết định số 103 quy định các cơ quan, đơn vị tham gia hợp đồng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc sử dụng dữ liệu đúng mục đích, phạm vi, phương thức truy cập; kiểm soát việc chia sẻ lại dữ liệu, sản phẩm hình thành từ dữ liệu và nghĩa vụ chia sẻ lợi ích.
Trường hợp sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc mô hình phân tích dữ liệu, đối tác khai thác phải có biện pháp kiểm soát sai lệch, nguy cơ tái nhận diện dữ liệu cá nhân và lộ lọt thông tin. Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, đối tác phải giải trình được phương thức sử dụng dữ liệu, dữ liệu đầu vào và kết quả đầu ra.
Đặc biệt, khi phát hiện dấu hiệu khai thác dữ liệu sai mục đích, vượt phạm vi hợp đồng, chia sẻ trái phép hoặc gây mất an toàn dữ liệu, các cơ quan, đơn vị tham gia hợp đồng phải dừng ngay hoạt động chia sẻ, khai thác; thực hiện biện pháp khắc phục và báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Kết quả kiểm tra, giám sát là căn cứ để xem xét tiếp tục thực hiện, điều chỉnh, gia hạn, chấm dứt hợp đồng hoặc không cho phép đối tác tiếp tục tham gia cơ chế hợp tác khai thác dữ liệu.
Quyết định cũng giao UBND thành phố ban hành danh mục dữ liệu có giá trị khai thác, trong đó có các lĩnh vực giao thông, quy hoạch, hạ tầng đô thị, đất đai, môi trường, du lịch, thương mại và nhiều lĩnh vực khác theo phạm vi pháp luật cho phép.
Việc một lĩnh vực được xác định có dữ liệu có giá trị khai thác không đồng nghĩa toàn bộ dữ liệu thuộc lĩnh vực đó đều được phép cung cấp cho doanh nghiệp. Phạm vi tiếp cận phải căn cứ vào tính chất từng loại dữ liệu và điều kiện pháp luật tương ứng.
Từ thực tế quản lý mạng lưới giao thông công cộng đến nhu cầu phát triển các dịch vụ số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực quan trọng trong quản trị đô thị. Cơ chế hợp tác khai thác dữ liệu công - tư theo Luật Thủ đô năm 2026 tạo thêm cơ sở để huy động năng lực công nghệ, nghiên cứu của doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu phân định rõ quyền khai thác, trách nhiệm bảo vệ thông tin và lợi ích của Nhà nước.
Minh Anh