Phục dựng điện Kính Thiên và tính xác thực trong bối cảnh di sản thế giới
(Chinhphu.vn) - Tại Hội nghị đối thoại Châu Á – Thái Bình Dương về Di sản và tính xác thực vừa diễn ra tại HÀ Nội, ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội đã đưa ra một lời giải mang tính đột phá cả về lý luận lẫn thực tiễn trong bài tham luận Tái thiết khái niệm tính xác thực: Nghiên cứu về Điện Kính Thiên thúc đẩy việc phân loại tính xác thực trong thực tiễn di sản thế giới như thế nào.

Sơ đồ tương quan giữa dấu tích khảo cổ học và kiến trúc phục dựngẢnh: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội. Ảnh: TT Bảo tồn Thăng Long - Hà Nội
Phục dựng Chính điện Kính Thiên không chỉ là nguyện vọng thiết tha của cộng đồng và các nhà khoa học qua nhiều thế hệ, mà còn là trụ cột cốt lõi nằm trong "Tầm nhìn Trục chính tâm Hoàng thành Thăng Long giai đoạn 2025-2030". Bản tầm nhìn quan trọng này đã chính thức được thông qua tại Quyết định 48 COM 7B.25 của Ủy ban Di sản Thế giới trong kỳ họp thứ 48 diễn ra tại Busan, Hàn Quốc.
Trong quyết định lịch sử nói trên, Ủy ban Di sản Thế giới đã dành sự biểu dương đặc biệt đối với Việt Nam nhờ những nỗ lực bài bản trong việc hệ thống hóa tri thức lịch sử và xây dựng phương pháp đánh giá mức độ tin cậy của các nguồn tư liệu. Tuy nhiên, từ góc nhìn phân tích chuyên sâu của Trung tâm Di sản Thế giới (WHC) và Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế (ICOMOS), các cơ quan chuyên môn quốc tế đã đặt ra một bài toán khắt khe hơn: Cần làm rõ hơn nữa độ tin cậy của tài liệu và cách thức xác thực từng thành phần cấu kiện kiến trúc cụ thể, làm sao để mọi phương án thiết kế đều có thể nhận diện, đối sánh và kiểm chứng một cách minh bạch nhất.
Tầng văn hóa khảo cổ và Công trình phục dựng: Phân định ranh giới cốt lõi của giá trị OUV
Một trong những đóng góp lý luận quan trọng nhất được ông Nguyễn Thanh Quang cùng nhóm nghiên cứu nhấn mạnh là cần xác định đúng bản chất thuộc tính mang Giá trị nổi bật toàn cầu (OUV) của Di sản Thế giới Hoàng thành Thăng Long nhằm bảo vệ tính toàn vẹn trước khi cân nhắc việc phục dựng phát huy di sản

Tái thiết Lan can nền điện Kính Thiên trên dữ liệu đã xác thực kiểm chứng và so sánh.
Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội
Theo Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, yếu tố then chốt hàng đầu của hồ sơ phục dựng Chính điện Kính Thiên nằm ở giải pháp bảo tồn và phát huy các dấu tích, tầng văn hóa khảo cổ học có chiều sâu lịch sử liên tục trên 1.300 năm. Đây mới chính là thuộc tính gốc cấu thành giá trị OUV thực sự của di sản cần được bảo vệ nguyên trạng tại chỗ (in-situ).
Trong khi đó, công trình kiến trúc Chính điện Kính Thiên thời Lê khi được phục dựng trên mặt đất không được xem là một thuộc tính OUV nguyên gốc, mà được xác định chỉ là "công cụ diễn giải". Công trình này đóng vai trò trực quan hóa và diễn giải những thuộc tính giá trị của di sản tới công chúng và thế hệ mai sau. Quan trọng hơn, công trình phục dựng sẽ tái tạo các giá trị phi vật thể và chia sẻ không gian di sản để người dân thực hiện nhu cầu thực hành tín ngưỡng, nhu cầu tâm linh từ đó tái tạo và duy trì di sản sống.
Việc phân định rạch ròi giữa "thuộc tính OUV cần bảo tồn tại chỗ" (tầng văn hóa khảo cổ) và "công cụ diễn giải giá trị" (công trình phục dựng) có ý nghĩa quyết định. Điều này giải tỏa hoàn toàn mối lo ngại từ ICOMOS rằng dự án có thể vô tình nâng công trình phục dựng lên thành yếu tố xác thực gốc của di sản hoặc che lấp các giá trị mang chiều sâu lịch sử, tính liên tục và tính tiếp nối của di sản đồng thời tạo cơ sở lý luận vững chắc cho công tác quy hoạch và bảo tồn di tích.

Ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tham luận tại Hội nghị đối thoại Châu Á - Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực. Ảnh: Chinhphu.vn
Bộ công cụ mã hóa màu 5+1: Đóng góp thao tác hóa cụ thể cho thực tiễn di sản
Để giải bài toán xác thực cho một công trình kiến trúc gỗ đã bị hủy hoại hoàn toàn trong quá khứ, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội đã xây dựng một bộ công cụ thu thập và đánh giá độ tin cậy của nguồn thông tin, vận hành như một khung đánh giá liên ngành.
Bộ công cụ này được thiết kế dưới dạng bảng biểu mã hóa bằng hệ màu trực quan, tích hợp 5 trường thông tin tư liệu nền tảng. Đó là tư liệu lịch sử với các văn bản thư tịch, chính sử và địa chí cổ; Tư liệu khảo cổ học là dấu vết nền móng, chân đá tảng, gạch tiles và hiện vật khai quật thực địa; Tư liệu hình ảnh là những bức vẽ cổ, bản đồ lịch sử và tư liệu ảnh thời kỳ đầu; Tư liệu so sánh trong nước là các công trình kiến trúc gỗ đồng đại hoặc có nét tương đồng còn tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam và tư liệu so sánh quốc tế với các mô hình kiến trúc cung điện khu vực Đông Á có mối giao lưu văn hóa.
Đặc biệt, xuất phát từ thực tiễn khai quật Hoàng thành Thăng Long, ông Nguyễn Thanh Quang và Trung tâm đã đề xuất bổ sung thêm tiêu chí thứ 6 rất quan trọng: "Giá trị tự thân của hiện vật khảo cổ". Tiêu chí này trực tiếp khai thác các dữ liệu nội tại của hiện vật như kỹ thuật công nghệ chế tác, dấu vết vật liệu, thời gian sử dụng và dấu ấn của chủ nhân tạo tác.
Bởi lẽ, hiện vật mang thông tin tự thân có giá trị mà không tư liệu gián tiếp nào có thể cung cấp được, tác giả đã đưa ra một minh chứng cụ thể về viên gạch ghi dòng chữ: Gạch có chữ "Đại đội trưởng (thập) ngũ quân, Ngọc Kiềm vệ Phê Cang quân niên đại 1466 thời Lê Thánh Tông ngay trên nền điện Kính Thiên, minh văn này cho biết Đông quân phủ của Đông Đạo (Hải Dương và An Bang). Câu chuyện này cho chúng ta biết cách thức nhà nước huy động lực lượng quân đội và các làng nghề giỏi về xây dựng cung điện Thăng Long thời Lê sơ.

Gạch có chữ "Đại đội trưởng (thập) ngũ quân, Ngọc Kiềm vệ Phê Cang quân) niên đại 1466 thời Lê Thánh Tông, trên nền điện Kính Thiên thuộc Đông quân phủ của Đông Đạo (Hải Dương và An Bang tức khu vực Hải Phòng ngày nay). Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân loại kiến trúc phục dựng Chính điện Kính Thiên thành 50 thành phần/chi tiết thuộc 3 phần: móng, thân và mái từ đó sử dụng bộ công cụ để đánh giá và kiểm chứng thông tin của chúng trước khi chuyển hóa thành bản vẽ thiết kế.
Sau thao tác đánh giá mức độ tin cậy của từng chi tiết các mã màu sẽ chứa đựng thông tin và được cộng dồn để lượng hóa một cách cụ thể. Các yếu tố có nguồn tư liệu mạnh sẽ được khẳng định chắc chắn; trong khi những cấu kiện có nguồn tư liệu yếu hơn sẽ tiếp tục được so sánh đồng đại để đưa ra hình thức phù hợp cho phương án thiết kế.
Ở bước này, các chuyên gia của Trung tâm di sản thế giới và ICOMOS khuyến nghị ưu tiên sự lựa chọn cho phương án truyền tải được các giá trị mang chiều sâu lịch sử, tính liên tục và tính tiếp nối vì đây là một trong những giá trị OUV của di sản.
Kết quả cuối cùng là phương án kiến trúc phục dựng Điện Kính Thiên không chỉ dừng ở giả thiết định tính, mà đã được lượng hóa, kiểm chứng và minh bạch hóa hoàn toàn trên hệ thống bản vẽ thiết kế.

Cấu trúc của thềm bậc phía Nam hiện nay đã được nâng lên và thu hẹp lối đi giữa để phù hợp với điện Long Thiên theo quy chế hành cung thời Nguyễn. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội
Nhìn từ phản biện chuyên môn: Hoàn thiện phương pháp luận trước các tiêu chuẩn ICOMOS
Dưới góc nhìn của các chuyên gia di sản, bộ công cụ mã hóa màu của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội được đánh giá là đóng góp thao tác hóa cụ thể và ấn tượng nhất trong toàn bộ chương trình đối thoại di sản. Phương pháp này đã chuyển hóa những khái niệm lý luận trừu tượng về "tính xác thực" thành một công cụ đo lường có thể vận hành trực tiếp trên bản vẽ thiết kế.
Tuy nhiên, để hồ sơ phục dựng đạt độ kín kẽ tối đa trước các câu hỏi thẩm định từ ICOMOS, các ý kiến phản biện chuyên môn đã chỉ ra một số điểm then chốt cần tiếp tục hoàn thiện như:
Xác định giới hạn của phép đối sánh: Đối với trường "so sánh trong nước", cần nêu rõ phạm vi và giới hạn ứng dụng. Đơn cử như việc so sánh kiến trúc giữa Huế và Thăng Long phải hết sức cẩn trọng, bởi hai cố đô này sở hữu quỹ đạo lịch sử, bối cảnh chính trị và cơ sở OUV hoàn toàn khác biệt.
Minh chứng cho nguyên tắc thận trọng: Bộ công cụ không chỉ được dùng để "củng cố" cho phương án thiết kế đã chọn, mà phải chứng minh được khả năng đưa ra câu trả lời "chưa nên làm" khi chứng cứ chưa đủ. Trường hợp Cổng Kính Thiên là một ví dụ điển hình: khi các dữ liệu lịch sử và khảo cổ chưa đạt độ tin cậy cần thiết, dự án đã thể hiện thái độ thận trọng bằng việc tạm dừng phương án phục dựng.
Thiết lập ngưỡng xác thực và giải pháp tháo dỡ: Cần làm rõ ngưỡng điểm xác thực bao nhiêu thì đủ điều kiện để tiến hành phục dựng. Đối với những cấu kiện bắt buộc phải có nhưng nguồn tư liệu còn yếu, thiết kế cần theo hướng linh hoạt, có thể tháo dỡ hoặc điều chỉnh khi các cuộc khai quật tương lai cung cấp thêm chứng cứ mới.
Nghiên cứu Chính điện Kính Thiên đã cho thấy việc đánh giá tính xác thực trong phục dựng cần bắt đầu từ chính hệ giá trị, thuộc tính và nguồn chứng cứ của từng di sản. Bộ công cụ được xây dựng tại Hoàng thành Thăng Long vì vậy không nhằm tạo ra một khuôn mẫu để áp dụng nguyên trạng cho các di sản khác, mà trước hết giúp nhận diện, phân loại và kiểm chứng mức độ tin cậy của những căn cứ phục vụ quá trình phục dựng Kính Thiên. Tài liệu nghiên cứu cũng xác định công trình phục dựng là công cụ diễn giải, trong khi các dấu tích, tầng văn hóa khảo cổ có chiều sâu lịch sử mới là những thuộc tính mang Giá trị nổi bật toàn cầu (OUV) cần được ưu tiên bảo tồn.
Giá trị của cách tiếp cận này nằm ở việc đặt chứng cứ vào trung tâm của quá trình ra quyết định. Mỗi thành phần kiến trúc được đối chiếu từ nhiều nguồn, đánh giá mức độ tin cậy và thể hiện minh bạch trên phương án thiết kế; những yếu tố có nguồn tư liệu yếu tiếp tục được đối sánh và xử lý phù hợp thay vì mặc nhiên coi là đã được xác thực.
Với 50 thành phần, chi tiết thuộc phần móng, thân và mái Chính điện Kính Thiên được đưa vào đánh giá, phương pháp này cho phép mức độ xác thực của phương án được nhận diện, lượng hóa và kiểm chứng.
Từ thực tiễn Kính Thiên, Việt Nam có thể đóng góp cho Văn kiện Hà Nội một trường hợp tham chiếu cụ thể về cách tiếp cận tính xác thực trong phục dựng kiến trúc đã mất: Không tìm kiếm một công thức chung cho mọi di sản, mà xây dựng phương pháp đánh giá phù hợp với hệ giá trị và nguồn chứng cứ riêng của từng di sản. Theo cách đó, kinh nghiệm tại Hoàng thành Thăng Long có thể tiếp tục được kiểm chứng trong những bối cảnh di sản khác, góp thêm cơ sở thực tiễn cho đối thoại quốc tế về tính xác thực và phục dựng di sản.
Minh Anh