Luật Thủ đô (sửa đổi): Tạo cơ sở pháp lý để Thủ đô thực hiện vai trò trung tâm điều phối phát triển vùng

20/03/2026 4:32 PM

(Chinhphu.vn) - Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đang được xây dựng với nhiều chính sách mới mang tính đột phá, nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển Thủ đô trong giai đoạn tới. Một trong những nội dung trọng tâm là xác lập rõ vai trò của Hà Nội như hạt nhân, đô thị trung tâm, cực tăng trưởng và động lực thúc đẩy liên kết phát triển của Vùng Thủ đô, Vùng Đồng bằng sông Hồng, Vùng trung du và miền núi phía Bắc, cũng như của cả nước.

Hoàn thiện cơ chế liên kết, phát triển vùng

Tờ trình dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) nhấn mạnh, Nhà nước sẽ ưu tiên nguồn lực cho liên kết, phát triển vùng. Các hoạt động liên kết phải bảo đảm tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, đồng thuận; đồng thời được triển khai thông qua các chương trình, kế hoạch và dự án cụ thể, phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch Thủ đô và quy hoạch các địa phương liên quan.

Luật Thủ đô (sửa đổi): Tạo cơ sở pháp lý để Thủ đô thực hiện vai trò trung tâm điều phối phát triển vùng- Ảnh 1.

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã đề xuất nhiều chính sách để phát triển vùng Thủ đô, khẳng định Hà Nội là hạt nhân, đô thị trung tâm. Ảnh minh họa

Nội dung liên kết tập trung vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng giao thông, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, phòng, chống dịch bệnh và phát triển chuỗi sản xuất, cung ứng liên vùng. Đây là những lĩnh vực có tính lan tỏa cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương để tạo hiệu quả tổng thể.

Đáng chú ý, dự thảo Luật quy định cơ chế đề xuất, quyết định và tổ chức thực hiện các dự án liên kết vùng trên cơ sở đồng thuận của HĐND các địa phương. Các địa phương trong vùng được phép sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào các công trình trên địa bàn Hà Nội phục vụ lợi ích chung. Cơ chế này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các "điểm nghẽn" lâu nay trong phối hợp đầu tư liên vùng.

Cùng với đó, dự thảo đề xuất thành lập Quỹ Phát triển Vùng Thủ đô – một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nhằm đầu tư các dự án liên kết, ưu tiên hạ tầng giao thông, các công trình trọng điểm, bảo vệ môi trường và phòng, chống rủi ro liên vùng. Các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách sẽ được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định.

Các địa phương trong vùng có trách nhiệm phối hợp triển khai, bố trí vốn, chia sẻ chi phí môi trường, cung cấp dữ liệu và giám sát thực hiện. Đây là bước tiến quan trọng để chuyển từ liên kết "tự nguyện" sang liên kết có ràng buộc trách nhiệm rõ ràng.

Tăng cường cơ chế phối hợp và bảo vệ môi trường liên vùng

Dự thảo Luật cũng bổ sung các cơ chế bảo vệ môi trường Thủ đô và vùng Thủ đô với cách tiếp cận liên tỉnh. Theo đó, nhiều giải pháp được đề xuất như xác lập vùng phát thải thấp, thúc đẩy giao thông sạch, phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi khu, cụm công nghiệp sinh thái.

Đồng thời, Luật cho phép thiết lập cơ chế phối hợp liên tỉnh trong quản lý chất lượng không khí, nguồn nước, chất thải; chia sẻ dữ liệu và hệ thống quan trắc liên vùng; áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn và mức phí môi trường nghiêm ngặt hơn trên cơ sở thống nhất giữa các địa phương.

Những quy định này nhằm giải quyết thực trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước mang tính liên vùng – vấn đề mà một địa phương riêng lẻ không thể xử lý triệt để.

Tại phiên họp thứ 55 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhiều ý kiến đã tập trung góp ý hoàn thiện cơ chế liên kết vùng trong dự thảo Luật.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải cho rằng, quy định về liên kết vùng tại Điều 29 vẫn thiếu các nội dung mang tính định hướng và chưa xác định rõ chủ thể đóng vai trò chủ quản. Cụ thể, quy định cho phép các địa phương thống nhất giao một UBND cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản dự án nhưng chưa làm rõ nguyên tắc và quy trình lựa chọn.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng chưa quy định rõ nguyên tắc bố trí ngân sách nhà nước cho các dự án liên kết vùng, có thể gây khó khăn trong triển khai khi liên quan đến phân bổ ngân sách trung ương và địa phương.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi đề nghị cần dành sự quan tâm đặc biệt cho hai vùng động lực là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ – nơi đóng góp trên 60% GDP cả nước. Ông kiến nghị xem xét ban hành một nghị quyết riêng cho hai vùng này, làm rõ cơ chế vận hành và nguồn lực để phát huy tối đa tiềm năng.

Trong khi đó, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý, liên kết vùng phải khắc phục tình trạng phát triển "một mình" của Hà Nội. Ví dụ, trong lĩnh vực giao thông, cần bảo đảm kết nối thông suốt để giải quyết ùn tắc không chỉ cho Thủ đô mà cho toàn vùng Đồng bằng sông Hồng.

Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội đề xuất cần có cơ chế luân phiên trong điều hành liên kết vùng, trong đó có giai đoạn Hà Nội làm đầu mối, có giai đoạn giao cho các địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên. Cách làm này sẽ giúp phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao tính chủ động của các địa phương.

Quy hoạch – trụ cột định hình không gian phát triển vùng

Trong quá trình sửa đổi Luật Thủ đô, quy hoạch được xác định là trụ cột xuyên suốt, vừa định hình không gian phát triển của Hà Nội, vừa tạo cơ sở pháp lý để Thủ đô thực hiện vai trò trung tâm điều phối phát triển vùng.

Theo điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia, Hà Nội được xác định là trung tâm của Vùng Đồng bằng sông Hồng và hạt nhân của Vùng Thủ đô. Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm cho thấy cách tiếp cận mới, khi không gian phát triển của Hà Nội được mở rộng và gắn kết chặt chẽ với các tiểu vùng, hành lang kinh tế.

Cụ thể, Hà Nội liên kết với Thái Nguyên, Bắc Ninh hình thành chuỗi đô thị – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao; kết nối với Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh thông qua hành lang kinh tế Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; liên kết với Ninh Bình phát triển công nghiệp hỗ trợ, du lịch văn hóa – tâm linh; và kết nối với Phú Thọ theo hành lang Xuyên Á.

Mô hình cấu trúc "chùm đô thị hướng tâm" được xác lập, trong đó Hà Nội là đô thị trung tâm, còn các đô thị xung quanh đóng vai trò vệ tinh, hỗ trợ và chia sẻ chức năng phát triển.

Liên kết vùng – nhu cầu thực tiễn từ địa phương

Từ góc nhìn địa phương, liên kết với Hà Nội không chỉ là định hướng mà còn là nhu cầu cấp thiết. Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết, kết nối với Hà Nội là định hướng xuyên suốt trong quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021–2030, đặc biệt trong phát triển hạ tầng giao thông.

Việc quy hoạch 6 cây cầu qua sông Hồng được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết giữa Hưng Yên với Hà Nội. Đồng thời, Hưng Yên cũng đã quy hoạch 5 tuyến đường sắt đô thị hướng về Hà Nội, do đó cần bảo đảm kết nối đồng bộ với hệ thống metro của Thủ đô, trong đó có tuyến số 8.

Ở góc độ cơ quan Trung ương, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương đánh giá cao Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn dài hạn và sự kết hợp hài hòa giữa quy hoạch kinh tế – xã hội với quy hoạch đô thị, nông thôn. Ông nhấn mạnh cần sớm hoàn thiện nền tảng pháp lý để triển khai quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, bảo đảm tính đồng bộ.

Theo ông Trần Quốc Phương, cần làm sâu sắc hơn cơ chế phối hợp giữa Hà Nội và các địa phương, đồng thời hoàn thiện mô hình điều phối vùng với các ràng buộc, cam kết cụ thể để tránh tình trạng triển khai thiếu đồng bộ.

Hoàn thiện thể chế để liên kết vùng đi vào thực chất

Ở phía Tây Bắc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương cho biết, tỉnh xác định rõ vai trò là vùng vệ tinh trong Vùng Thủ đô, với mối liên kết chặt chẽ với Hà Nội về không gian phát triển, hạ tầng và môi trường.

Phú Thọ định hướng điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp để giảm áp lực cho nội đô Hà Nội, đồng thời tận dụng động lực từ Khu công nghệ cao Hòa Lạc để phát triển các khu vực giáp ranh. Tỉnh cũng đề xuất Hà Nội chia sẻ chi tiết quy hoạch hai bên bờ sông Hồng để bảo đảm sự đồng bộ cảnh quan từ Hà Nội đến Việt Trì.

Bên cạnh đó, việc phát triển các tuyến du lịch dọc sông Hồng và sông Đà, kết nối từ Lào Cai qua Phú Thọ tới Hà Nội, được kỳ vọng sẽ tạo thêm không gian phát triển mới cho toàn vùng.

Có thể thấy, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) không chỉ là công cụ quản lý riêng của Hà Nội mà còn là nền tảng thể chế để thiết lập mô hình phát triển mới giữa Thủ đô và các địa phương trong vùng.

Khi các quy định về quy hoạch, đầu tư, môi trường và điều phối vùng được hoàn thiện và triển khai đồng bộ, Hà Nội sẽ có điều kiện phát huy vai trò hạt nhân, trung tâm và động lực phát triển. Qua đó, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển bền vững, hài hòa cho Vùng Thủ đô và cả nước trong giai đoạn mới.

Thùy Chi

Top